CÁC BÀI BẢN TÀI TỬ CẢI LƯƠNG

Nhạc truyền thống của ta nói chung và nhạc Tài tử Cải lương nói riêng được lãnh hội bằng trí nhớ và được truyền đạt, bảo tồn qua nhiều thế hệ bằng giọng người / trí nhớ mà không cần văn tự để ghi chép. Tuy vậy lúc đầu còn ít bài bản (vài chục bài) còn có thể nhớ, ngày nay đã hơn trăm bản không ai nhớ hết được, nếu không ghi chép lại thì dễ bị thất lạc, rất uổng. Hơn nữa ghi chép lại thì phổ biến dễ và mau hơn.

Phần còn lại của bài này được chia thành 5 phần:
A. Những Sưu Tầm Đầu Tiên
B. Các Sưu Tập Sau Này
C. Phân Loại Các Bài Bản
D. Cách Dùng Các Bài Bản
E. Liệt Kê Các Bài Bản

Phần A điểm qua những tuyển tập đầu tiên về các bản đờn và lời hát của các điệu hát cải lương.
Phần B nhắc đến các quyển sách “tương đối” cập nhựt hơn.
Phần C phân loại các bài bản cải lương dựa theo các tài liệu cũ. Phần D điểm qua các bài bản thông dụng / thường hay dùng.
Phần E liệt kê tất cả các bài bản được biết cho tới nay.

A. Những Sưu Tầm Đầu Tiên

Bộ sưu tập các bản đờn và lời ca cải lương được in / xuất bản xưa nhất có lẽ là ở khoảng cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 (không kể các bộ sưu tập chép tay, không được biết tới). Ông Vương Hồng Sển, trong cuốn “Hồi Ký 50 Năm Mê Hát” của ông, do cơ sở Phạm Quang Khải xuất bản, 08.1968, cho biết ông còn giữ được các tài liệu sau:

“Bản Đờn Tranh & Bài Ca”, 12.1909, do Phụng Hoàng San chủ bút, Đinh Thái Sơn (còn tên khác là Phát Toán) xuất bản lần thứ tư tại nhà in Libraire-Imprimeur, 55-57 rue d’Ormay, Saigon.
Trong quyển này có các bản đờn của 11 điệu và lời của 24 bài hát: Lưu Thủy Trường (1), Phú Lục (1), Bình Bán Chấn (1), Xuân Tình (1), Bình Bán Vắn (1), Bát Man Tấn Cống (1), Tứ Đại (7), Phụng Hoàng (1), Nam Xuân (1), Nam Ai (2), Tứ Đại Cảnh (7).

“Lục Tài Tử”, 12.06.1915, của Đặng Tiền Nhiều, do Đinh Thái Sơn xuất bản, nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon. Đây là một tập bài ca, có 18 lời hát của các điệu: Tứ Đại (14), Phụng Hoàng (2), Nam Ai (1), Nam Xuân (1).

“Thập Tài Tử”, 15.06.1915, của Đặng Đắc Lợi, Đinh Thái Sơn xuất bản kỳ nhứt, nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon.
Đây là một tập bài ca, có 19 lời hát của các điệu:
Tứ Đại (16), Phụng Hoàng (1), Phú Lục (1), Lý 6 bài Bắc (6).

“Tứ Tài Tử”, 16.06.1915, của Đặng Nhiều Hơn, do Đinh Thái Sơn xuất bản – nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon. Đây là một tập bài ca, có 21 lời hát của các điệu: Tứ Đại (16), Nam Xuân (2), Lưu Thủy (2), Bình Bán Vắn (1).

“Bát Tài Tử”, 29.08.1915, của Nguyễn Tùng Bá, do Đinh Thái Sơn xuất bản, nhà in Imprimerie de l’Union, Saigon. Đây là một tập bài ca với 21 lời hát của bài Tứ Đại.

Với các cuốn “Lục Tài Tử”, “Thập Tài Tử” và “Tứ Tài Tử” ông Vương Hồng Sển nghi rằng tên họ tác giả trên bìa sách là không đúng sự thật và có khi bịa đặt (vì các tên hơi giống nhau và hơi kỳ quặc: Đặng Tiền Nhiều, Đặng Đắc Lợi, Đặng Nhiều Hơn ?!?), có thể chỉ là người sưu tầm / trích lục mà không đề tên thật.

Để ý là “Bản Đờn Tranh & Bài Ca” xuất bản tháng 12 năm 1909 là tái bản / in lần thứ 4, vậy lần xuất bản đầu tiên cũng khoảng 1-2 năm trước đó: 1907-1908.

B. Các Sưu Tập Sau Này

Giới đàn ca tài tử trước đây thường nhắc tới hai cuốn:
“Cầm Ca Tân Điệu”, của Lê Văn Tiến, xuất bản ở Sài Gòn, khoảng năm 1930.
“Cổ Nhạc Tầm Nguyên”, do một số nghệ sĩ và nhạc sĩ sưu tầm, xuất bản ở Sài Gòn, không rõ năm nào.

Hai cuốn này thì Chín Đờn Cò cũng chỉ nghe qua thôi chớ chưa biết / thấy hình dung ra sao (vì xưa quá). Còn nhiều quyển nữa của các nhạc sĩ Sáu Tửng, Năm Hưng, v.v… cũng xuất bản tại Sài Gòn. Bà con nào có các quyển nói trên xin vui lòng lên tiếng và chỉ bảo cho mọi người.

Phần lớn đi học trực tiếp ở các thầy đờn / nghệ sĩ / nghệ nhân hoặc học qua bạn bè. Đờn / nghe riếc rồi thấm, rồi thuộc lòng không cần ghi chép. Chỉ có loại u mê như Chín Đờn Cò, học mười hiểu một, mới phải lui cui chép lại các bài bản rồi từ từ học.

Gần đây có quyển “Tìm Hiểu Âm Nhạc Cải Lương” của Đắc Nhẫn, xuất bản ở Sài Gòn, năm 1987. Quyển này chủ yếu dựa vào “Cầm Ca Tân Điệu” của Lê Văn Tiến, có bổ sung thêm và xếp loại lại. Nhiều chi tiết trong bài viết này được trích từ quyển này.

Nên nhắc qua là các bản đờn trong các sách nói trên có tính ước lệ / “lòng bản”, tức là chỉ chứa các âm chính, tiêu biểu cho điệu hát. Các bản đờn được ký âm bằng hệ thống ngũ âm cổ truyền (Hò – Xự – Xang – Xê – Cống – …). Bản đờn với cách ghi này thường có các chữ đờn tương đối rời rạc, chỉ dùng để hát / xướng âm và để lưu trử, bởi vì nếu đờn sao ghi vậy thì rất dài dòng, phức tạp. Mỗi người đờn mỗi khác, không ai giống ai. Ngay cả đối với cùng một người thì cũng có khi đờn lúc này, lúc khác, không cố định, chỉ có hát là tương đối giống nhau thôi.

Với cách xướng âm có tính tượng trưng / ước lệ như vậy thì đờn từng chữ, đúng theo như bản ghi, thì khó mà nghe ra nhạc. Người đờn trên thực tế phải thêm / bớt các chữ đờn sao cho nghe được liền lạc, trôi chảy (nhưng không được vượt ra ngoài lòng bản). Đờn cải lương thường là để hòa với người hát, chỉ cần giữ đúng NHỊP và đúng những chữ đờn quan trọng (thường là ở cuối mỗi câu) để cho ra ĐIỆU, còn những chổ khác thì … tự do. Đờn làm sao mà hài hòa với lời hát là được.

C. Phân Loại Các Bài Bản Tài tử cải Lương

Theo các sách hướng dẫn đờn hát cải lương nói trên thì nhạc cổ và cải lương được phân thành mười mục:

  1. Nhứt Lý : các điệu Lý
  2. Nhì Ngâm : ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc …
  3. Tam Nam : ba bài Nam lớn
  4. Tứ Oán : các bài Oán
  5. Ngũ Điểm : sáu bài Bắc lớn
  6. Lục Xuất : sáu bài ngắn
  7. Thất Chinh : bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình
  8. Bát Ngự : tám bài Ngự
  9. Cửu Nhĩ : 2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn
  10. Thập Thủ : thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn

Bài Vọng Cổ, hậu thân của bài Dạ Cổ Hoài Lang của ông Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng tác trong những năm 1920, không thấy trong bảng phân loại nói trên. Không biết là bởi vì bài Vọng Cổ quá đặc biệt để phân loại hay do sự phân loại này được làm trước khi bản Vọng Cổ được phổ biến rộng rãi.

Cũng cần nên nhắc qua là trước khi bài Vọng Cổ chiếm được vị trí số một trong âm nhạc cải lương thì bài Hành Vân được dùng rất rộng rải trên sân khấu cải lương, như bài Vọng Cổ ngày nay vậy.

Dưới đây mỗi mục sẽ được điểm qua sơ lược.

1. Nhứt Lý

Các điệu Lý, xuất xứ từ dân ca, được cải lương hóa, thường dùng để hát đệm trong bài Vọng Cổ hoặc trong các tuồng cải lương. Những bài hay được dùng nhiều nhất là :

  • Lý Con Sáo
  • Lý Ngựa Ô (Nam và Bắc)
  • Lý Thập Tình
  • Lý Giao Duyên
  • Lý Vọng Phu
  • Lý Chiều Chiều
  • Lý Cái Mơn
  • Lý Huế

Trong các điệu Lý, như Lý Ngựa Ô, có ngựa ô Nam và ngựa ô Bắc. Lý Con Sáo và Lý Thập Tình có hơi Xuân và hơi Ai. Đờn hơi Bắc và hơi Xuân thì vui, đờn hơi Nam và hơi Ai thì buồn. Các điệu Lý khác phần nhiều đờn hơi Nam.

2. Nhì Ngâm

Gồm có ngâm thơ, ngâm sa mạc, ngâm Kiều , và nhiều điệu ngâm khác. Có người ngâm theo điệu Bắc, có người ngâm theo điệu Huế nhưng đa số ngâm theo điệu Sài Gòn (tùy theo sở trường và khả năng của mỗi người).

3. Tam Nam

Gồm ba bài Nam:
Nam Xuân : điệu nhạc thanh thản lâng lâng, sảng khoái, nghiêm trang, nhẹ nhàng, có người cho là “tiên phong đạo cốt”. Bài này được dùng để mở đầu các chương trình ca nhạc cải lương ở Sài Gòn.
Nam Ai : buồn ảo não, não nùng, bi thảm. Bài này có 8 lớp, cấu trúc cũng như Nam Xuân (cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lớp). Lớp 7 và 8 (hai lớp Mái) thường hay dung nhất.
Nam Đảo (hay Đảo Ngũ Cung) : tôn nghiêm, hùng tráng, gay gắt. Hai câu cuối được chuyển sang hơi Hò Ba âm điệu buồn, để chấm dứt, gọi là “song cước”.

Trong “Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam” của ông Trần Văn Khải, nhà sách Khai Trí xuất bản năm 1970 tại Sài Gòn, có nhắc tới Nam Bình và Nam Chạy.
Nam Bình: còn gọi là Trường Tương Tư (trong Bát Ngự).
Nam Chạy: vừa ca vừa chạy, là hai lớp trống của Nam Ai, nhưng ca nhịp thúc để diễn tả lúc chạy giặc.

4. Tứ Oán

Gồm các bài:
Tứ Đại Oán : điệu nhạc thất vọng, bi thiết, oán hờn giống bài Văn Thiên Tường, nhưng hơi hướng có phần cổ và chơn chất hơn. Hai lớp Xang vắn thường hay được dùng.
Văn Thiên Tường : trần thuật, thổ lộ tâm tình, buồn ảo não. Có nhiều mức độ, khi buồn vừa vừa thì dung lớp 1, khi buồn nhiều thì dùng lớp 2 (lớp Oán). Lớp Xế Xảng thật ngắn thường dùng để gối đầu vào Vọng Cổ.
Bình Sa Lạc Nhạn : hơi ngang và dựng.
Thanh Dạ Đề Quyên : cao hơn Bình Sa Lạc Nhạn.
Phụng Hoàng : như Tứ Đại Oán, nhưng hơi dựng hơn.
Giang Nam : trầm hơn Tứ Đại Oán, chậm rãi.
Phụng Cầu : như Phụng Hoàng.
Xuân Nữ: ngắn, có tính bi thiết, thường dùng trong cảnh bi ai, đau thưong đột xuất.

Mỗi bài Oán có sắc thái riêng biệt, nhưng khác biệt rõ nhứt là giữa hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường.
Các bài Oán khác đều có những nét giống với bài Tứ Đại Oán hoặc Văn Thiên Tường. Hai bài này là tiêu biểu cho loại Oán và được dùng nhiều trong cải lương.

5. Ngũ Điểm

Gồm sáu bài Bắc lớn, các bài này có điệu vui, ngắn, gọn.
Lưu Thủy Trường : điệu nhạc nhàn hạ, khoan thai, phù hợp với cảnh trí thanh nhàn, non xanh nước biếc, cỏ hoa chim chóc. Lưu Thủy Trường là do Lưu Thủy Đoản phát triển, kéo dài ra. Một câu của “đoản” bằng hai câu của “trường”. Bài này có 4 lớp, 32 câu (8, 6, 12, 6).
Phú Lục : sôi nổi, rộn rả, khẩn trương, khác với bài Lưu Thủy Trường có tính thiên nhiên. Bài này có xuất xứ từ bài Phú Lục ở Huế. Khi mới vào Nam Bộ được cải lương hóa thành bài Phú Lục Vắn (17 câu, nhịp 1), sau phát triển thành bài Phúc Lục của nhạc tài tử (34 câu nhịp 4). Bài này rất nghiêm chỉnh cân đối, câu đối câu, nhịp đối nhịp, có 4 lớp (8, 8, 8, 10).
Xuân Tình : vui tươi, lúc bình thường khi rộn rã, âm điệu vang, trong sáng, nồng nhiệt.
Bình Bán Chấn: phát triển từ bài Bình Bán, đến Bình Bán Vắn, rồi đến bài Bình Bán Chấn (dài). Gốc là bài Bình Bán vui vẻ sảng khoái, nhưng khi phát triển thành Bình Bán Chấn thì trở thành đĩnh đạc, nghiêm trang. Bài này phức tạp, khúc mắc, ít được dùng trên sân khấu.
Tây Thi : êm dịu, trong sáng, vui tươi, có tính tự sự, không gay gắt như Phú Lục. Bản này là bản dễ nhớ nhứt trong sáu bài Bắc. Bài này có 26 câu, 3 lớp (9, 13, 4).
Cổ Bản : câu ngắn gọn, dồn dập, nhưng không nhấn mạnh như bài Phú Lục.

6. Lục Xuất

Điệu nhạc các bài này vui, ngắn, gọn. Gồm sáu bài:
Bình Bán Vắn
Tây Thi Vắn
Cổ Bản Vắn
Xuân Phong
Kim Tiền: được dùng như bài Mẫu Tầm Tử trong trường hợp đối đáp, cãi nhau.
Long Hổ: thường đi cặp với bài Long Hổ Hội, có tiết tấu đối chọi.

7. Thất Chinh

Gồm bảy bài:
Xàng Xê : hùng tráng uy nghi nhưng dịu dàng, êm ái.
Ngũ Đối Hạ: còn gọi tắt là bài Hạ, có tính uy nghi, nghiêm trang, man mác, thanh thản.
Long Đăng: giống bài Hạ, nhưng tiết tấu khỏe, ít nghiêm trang.
Long Ngâm: giống bài Hạ, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.
Ngũ Đối Thượng: ba bài Ngũ Đối Thượng, Vạn Giá, Tiểu Khúc có nhiều âm hưởng nhạc lễ.
Vạn Giá
Tiểu Khúc

Các bài này là bảy bài lớn dùng trong nhạc lễ, mỗi khi cúng lễ, cúng tế, tính chất nghiêm trang. Riêng bài Ngũ Đối Hạ sân khấu hát bội thường dùng, trên sân khấu cải lương thì bài Xàng Xê được dùng nhiều hơn.

8. Bát Ngự

Gồm tám bài:
Đường Thái Tôn: êm, vui, phấn khởi, đắc chí.
Bát Man Tấn Cống: vui khỏe, để múa hát, chúc tụng.
Duyên Kỳ Ngộ: dùng trong cảnh tái ngộ, thăm hỏi, vui tươi nhộn nhịp. Tiết tấu nhanh, rộn rã vui tươi.
Kim Tiền Bản: tâm trạng giận dữ, mắng mỏ, hỏi tội, bày binh bố trận, điều binh khiển tướng.
Ngự Giá Đăng Lâu: khệ nệ, rườm rà, đắc chí vui tươi, kể lể dài dòng.
Ái Tử Kê: ngắn, giai điệu chững chạc, cân đối, trìu mến thương tiếc. Lời gốc của điệu này tả một bầy gà con bị chồn bắt.
Chiêu Quân: quạnh quẽ cô đơn, trầm lặng nhưng rất ảo não. Bài này thường đi cặp với bài Ái Tử Kê.
Trường Tương Tư: bài này nhẹ nhàng thư thái, thất vọng, nhớ nhung, ít thê lương hơn Nam Ai. Giới đờn hát tài tử thường đờn liên hoàn các bài Ái Tử Kê, qua Chiêu Quân, rồi đến Trường Tương Tư.

9. Cửu Nhĩ

Gồm hai bài:
Hội Nguyên Tiêu
Bát Bản Chấn
Hai bài này do nhóm tài tử miền Đông sáng tác, ít thấy dùng trên sân khấu cải lương.

10. Thập Thủ

Thập Thủ Liên Hườn còn gọi là Liên Bộ Thập Chương từ Huế đưa vào Nam, được cải lương hóa. Các bài này có điệu nhạc vui, ngắn gọn. Gồm mười bản Tàu, đã được Việt Nam hóa từ lâu, thường được đờn liên hoàn với nhau.

  • Phẩm Tuyết
  • Nguyên Tiêu
  • Hồ Quảng
  • Liên Hoàn
  • Bình Bản (Bình Nguyên)
  • Tây Mai
  • Kim Tiền Huế
  • Xuân Phong
  • Long Hổ
  • Tẩu Mã

Một điều nên nhắc qua là sự phân loại như trên (khoảng 60 bài được nhắc đến) là ở những năm 1950. Cho đến nay đã có hơn 100 bài được biết / thu thập (và còn nhiều bài sẽ được sáng chế thêm trong tương lai). Cách phân loại như vậy có phần hơi gò bó, còn bỏ sót nhiều bài bản.

Có nhiều tài liệu sau này phân loại theo hơi Bắc / Nam / Oán hay cở nhỏ / trung bình / lớn.
Ngoại trừ một số bản đặc trưng của mỗi loại, dễ dàng nhận ra, có không ít bài bản khó mà xác định được thuộc loại nào (chẳng hạn ranh giới giữa nhỏ – trung bình, trung bình – lớn đôi khi không rõ ràng, có nhiều bản pha lẫn các hơi …)

D. Cách Dùng Các Bài Bản

Tùy theo hoàn cảnh, tình huống, tâm trạng … mà các bài sau đây thường hay được dùng nhất trong các tuồng cải lương cũng như trong những lúc đàn ca tài tử:

1. Lúc vui rộn rã, ngắn, gọn, thường dùng các bản: Long Hổ Hội, Ngũ Điểm – Bài Tạ, Lưu Thủy Đoản, Bình Bán Vắn, Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Khúc Ca Hoa Chúc, Ú Liu Ú Xáng, Lạc Âm Thiều, Mạnh Lệ Quân, Tam Pháp Nhập Môn, Liễu Thuận Nương, Duyên Kỳ Ngộ, Bắc Sơn Trà, Lý Ngựa Ô Bắc, Lý Phước Kiến, Xuân Phong, Long Hổ, Bình Bán.

2. Lúc vui lâng lâng, kể chuyện dài, thong thả nhàn hạ dạo cảnh ngắm hoa, thường dùng các bản : Lưu Thủy Trường, Nam Xuân, Xuân Tình.

3. Lúc buồn cách biệt thấm thía, não nùng bi thảm, thường dùng các bản : Văn Thiên Tường, Nam Ai, Trường Tương Tư, Xuân Nữ.

4. Lúc buồn man mác, kể lể tâm tình oán hận, bi hùng trước cảnh chia phôi, phút giây gặp gỡ, thường dung các bản : Lý Con Sáo, Chiêu Quân, Lý Ngựa Ô Nam, Lý Thập Tình, Lý Giao Duyên, Lý Vọng Phu, Nam Xuân, Tứ Đại Oán, Phụng Hoàng, Vọng Cổ, Xàng Xê.
Các bản Nam Xuân, Vọng Cổ và Xàng Xê có thể dùng trong nhiều tình huống, tâm trạng : vui nhẹ nhàng, lâng lâng, hay buồn man mác đều dùng được Nam Xuân. Cảnh hội ngộ hay chia phôi; cảnh thống thiết hay bi hùng đều dùng được các bản Xàng Xê hay Vọng Cổ.

5. Lúc cãi vã, giận dữ, đối đáp, tranh biện có tính chất gay gắt, dứt khoát, trả treo, thường dùng các bản:
Khổng Minh Tọa Lầu, Kim Tiền Bản, Đảo Ngũ Cung.

6. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách hòa hoãn bình thường, các bản sau đây hay được dùng : Lưu Thủy Trường, Phú Lục, Xuân Tình, Bình Bán Chấn, Tây Thi, Bài Tạ.

7. Lúc kể chuyện, thuật chuyện có tính cách gấp rút, vội vàng, thường dùng các bản : Cổ Bản, Mẫu Tầm Tử, Kim Tiền Huế, Ú Liu Ú Xáng, v.v…

Trên thực tế chỉ có một số bản được sử dụng rộng rãi mà thôi. Đa số những bài cải lương dùng trong những buổi đàn ca tài tử được trích từ các vở tuồng cải lương. Lý do là lời đặt riêng cho các điệu / bài bản không nhiều. Có thể nói là sau này không còn thấy lời mới nữa. Các soạn giả chỉ sáng tác lời cho bài vọng cổ (và các bài bản nhỏ, để hát xen kẽ với vọng cổ).

E. Liệt Kê Các Bài Bản

Dưới đây là liệt kê tương đối đầy đủ các bài bản cải lương cho tới giữa thập niên 1980 (đã gần 15 năm rồi). Danh sách này chủ yếu dựa trên hai cuốn “Tìm Hiểu Âm Nhạc Cải Lương” của Đắc Nhẫn, 1987 (những bài được đánh dấu với *) và “Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam” của Trần Văn Khải, 1970 (những bài được đánh dấu với **).
Mỗi bài có ghi chú tên tác giả (nếu biết) và thuộc mục nào trong cách phân loại cổ điển ở phần trên. Những bài trong cuốn thứ nhứt có bản đờn, những bài trong cuốn thứ nhì không có bản đờn.
Mặc dù nhiều bài bản như vậy nhưng các thế bấm, chữ đờn liên hoàn không nhiều. Các chữ đờn của bài này có thể dùng cho bài khác, thậm chí bài này có nhiều câu giống bài khác (vì vậy mà hay có chuyện đờn lộn từ bài này qua bài khác). Với những người sành điệu hay có bản lĩnh thì dù không biết trước một bài bản nào nhưng chỉ nghe hát qua một vài lần thì họ sẽ đờn được.

  1. 1 Ái Tử Kê 8 Ngự **
    2 Bắc Sơn Trà **
    3 Bài Tạ **
    4 Bá Hoa – Mộng Vân *
    5 Bát Bản Chấn – 9 Nhĩ
    6 Bát Man Tấn Công – 8 Ngự **
    7 Bình Bản (Bình Nguyên) – 10 Thủ **
    8 Bình Bán Chấn – 5 Điểm **
    9 Bình Bán Vắn – 6 Xuất **
    10 Bình Sa Lạc Nhạn – 4 Oán **
    11 Cao Phi
    12 Cao San (Cao Sơn) **
    13 Chiêu Quân – 8 Ngự **
    14 Chuồn Chuồn *
    15 Cung Thiềm Bán Nguyệt *
    16 Cổ Bản – 5 Điểm **
    17 Dạ Cổ Hoài Lang – Sáu Lầu **
    18 Dạ Hành Lữ Khách *
    19 Duyên Kỳ Ngộ – 8 Ngự **
    20 Đại Bá Đường
    21 Đăng Sơn Lãm Thúy *
    22 Điểu Ngữ – Mộng Vân
    23 Đường Thái Tôn – 8 Ngự **
    24 Giang Nam – 4 Oán **
    25 Giang Tô – Mộng Vân **
    26 Hàng Giang – Mộng Vân *
    27 Hành Vân **
    28 Hồ Quảng – 10 Thủ **
    29 Hồ Điệp Song Phi *
    30 Hội Nguyên Tiêu *
    31 Hoài Nam Khúc *
    32 Hoài Tình – Bảy Nhiêu *
    33 Hướng Mã Hồi Thành *
    34 Khổng Minh Tọa Lầu **
    35 Khốc Hoàng Thiên **
    36 Khúc Ca Hoa Chúc *
    37 Kiều Bá Tuấn
    38 Kiều Nương – Mộng Vân
    39 Kim Tiền (cải lương) – 6 Xuất **
    40 Kim Tiền Bản – 8 Ngự *
    41 Kim Tiền Huế – 10 Thủ **
    42 Lạc Xuân Hoa *
    43 Lệ Rơi Thấm Đá *
    44 Liên Hườn – 10 Thủ **
    45 Liễu Thuận Nương **
    46 Long Đăng – 7 Chinh **
    47 Long Hổ (Huế) – 10 Thủ *
    48 Long Hổ Hội – 6 Xuất **
    49 Long Hổ (cải lương) – 6 Xuất **
    50 Long Ngâm – 7 Chinh **
    51 Long Nguyệt *
    52 Lưu Thủy Đoản **
    53 Lưu Thủy Trường – 5 Điểm **
    54 Lưu Thủy Hành Vân *
    55 Lý Đêm Trăng – 1 Lý
    56 Lý Bắc (Ngựa Ô Bắc) – 1 Lý **
    57 Lý Cái Mơn – 1 Lý
    58 Lý Chiều Chiều – 1 Lý
    59 Lý Con Sao Sang Sông – 1 Lý
    60 Lý Con Sáo (Lý Tam Thất) – 1 Lý **
    61 Lý Giao Duyên – 1 Lý **
    62 Lý Huế *
    63 Lý Mỹ Hưng – 1 Lý
    64 Lý Phước Kiến – 1 Lý
    65 Lý Qua Cầu – 1 Lý
    66 Lý Tầm Quân – 1 Lý
    67 Lý Thập Tình – 1 Lý *
    68 Lý Tịch Tang – 1 Lý
    69 Lý Trăng Soi – 1 Lý
    70 Lý Vọng Phu – 1 Lý
    71 Mạnh Lệ Quân *
    72 Mẫu Tầm Tử **
    73 Mẫu Đơn
    74 Minh Châu **
    75 Minh Hoàng Thưởng Nguyệt *
    76 Nặng Tình Xưa – Sáu Hải **
    77 Nam Ai – 3 Nam **
    78 Nam Đảo (Đảo Ngũ Cung) – 3 Nam **
    79 Nam Xuân – 3 Nam **
    80 Ngự Giá Đăng Lâu – 8 Ngự **
    81 Ngựa Ô Nam **
    82 Nguyệt Bác Xuân Đài **
    83 Nguyên Tiêu – 10 Thủ **
    84 Ngũ Điểm **
    85 Ngũ Đối Hạ (bài Hạ) – 7 Chinh **
    86 Ngũ Đối Thượng – 7 Chinh **
    87 Ngũ Long Tranh Châu
    88 Phẩm Tuyết – 10 Thủ **
    89 Phi Vân Điệp Khúc – Văn Giỏi
    90 Phò Mã Giao Duyên *
    91 Phong Ba Đình *
    92 Phong Nguyệt – Mộng Vân **
    93 Phụng Cầu Hoàng – 4 Oán **
    94 Phụng Hoàng – 4 Oán **
    95 Phú Lục – 5 Điểm **
    96 Quả Phụ Hàm Oan *
    97 Sâm Thương
    98 Sơn Đông Hướng Mã – Mộng Vân **
    99 Song Cước
    100 Sương Chiều – Mộng Vân *
    101 Tẩu Mã – 10 Thủ **
    102 Tân Sái Phỉ – Mộng Vân
    103 Tây Mai (Cây Mai) – 10 Thủ **
    104 Tây Thi – 5 Điểm **
    105 Tấn Phong – Mộng Vân **
    106 Tam Pháp Nhập Môn **
    107 Thanh Dạ Đề Quyên *
    108 Thiên Bất Túc (Ú Liu Ú Xáng) *
    109 Thu Hồ **
    110 Thu Phong – Mộng Vân **
    111 Thủ Bình Bản *
    112 Thượng Uyển Dạ Hành *
    113 Tiểu Khúc – 7 Chinh **
    114 Tô Võ Mục Dương *
    115 Trăng Thu Dạ Khúc
    116 Trạng Nguyên Hành Lộ *
    117 Trôi Nổi Phong Trần *
    118 Trường Tương Tư (Nam Bình) – 8 Ngự **
    119 Tử Qui Từ
    120 Tứ Bát Chánh *
    121 Tứ Đại Cảnh **
    122 Tứ Đại Oán – 4 Oán – Ba Đại **
    123 Tú Anh – Mộng Vân **
    124 Tùng Lâm Dạ Lãm *
    125 Túy Nguyệt *
    126 Uyên Ương Hội Vũ *
    127 Văn Thiên Tường – 4 Oán **
    128 Vạn Giá – 7 Chinh **
    129 Võ Biền Xuất Đội **
    130 Xang Xừ Líu **
    131 Xàng Xê – 7 Chinh **
    131 Xuân Nữ Oán **
    133 Xuân Phong – 10 Thủ **
    134 Xuân Tình – 5 Điểm **

(COPY TỪ dacohoailang.com)

About hoalongphongvan

einsam fühlen, hoffnungslos wandern

2 responses »

  1. thanhtong55 nói:

    Khách lang thanh trên web xin ngã đầu cám ơn hoalongphongvan.wordpress.com

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s